Chồng đổ bệnh nằm viện thẩy ông cụ giường bên cạnh không có ai chăm sốc tôi ngày nào cũng mua dủ bốn bửa choông lúc xuất viện ông nhét tây tôi hai tờ tiền âm phủ khiên tôi..
Chồng tôi, anh Hùng, nhập viện vì viêm phổi nặng đúng lúc công ty cắt giảm, tiền tiết kiệm vơi nhanh như nước. Tôi tên Lan, làm nhân viên kế toán, ban ngày chạy qua chạy lại giữa bệnh viện và nhà trọ, tối ngủ gục trên ghế xếp cạnh giường bệnh.
Giường bên cạnh là một ông cụ gầy nhom, tóc bạc dựng, bảng tên ghi Trần Văn Bảy. Ông không có người nhà. Mỗi lần y tá Thảo đi ngang, ông chỉ gật đầu, cười hiền rồi lại quay mặt vào tường. Có bữa tôi thấy ông ăn cơm bệnh viện nguội ngắt, phần canh loãng như nước rửa chén. Tôi hỏi nhỏ:
“Ông ăn vậy sao chịu nổi?”
Ông cười: “Ăn được cô ơi, miễn còn thở.”
Từ hôm đó, ngày nào tôi cũng mua đủ bốn bữa: sáng cháo nóng, trưa cơm, xế sữa, tối bún. Mua cho chồng một phần, mua cho ông một phần. Hùng ban đầu khó chịu: “Em lo cho anh trước đã.” Nhưng nhìn ông cụ lủi thủi, Hùng cũng mềm lại, im lặng để tôi đặt phần ăn lên tủ đầu giường cho ông.
Một tuần sau, Hùng đỡ hẳn, bác sĩ cho xuất viện. Sáng hôm làm thủ tục, tôi xếp đồ vào túi, chạy ra chạy vào đóng tiền thuốc. Khi quay lại, ông Bảy đã mặc áo khoác cũ, tay cầm tờ giấy xuất viện nhàu.
Ông gọi tôi lại, giọng khàn: “Cô Lan.”
Ông nắm cổ tay tôi rất chặt, như sợ tôi đi mất, rồi nhét vào lòng bàn tay tôi hai tờ tiền được gấp gọn. “Cầm… coi như ông cảm ơn.”
Tôi ngại ngần: “Dạ thôi, con giúp chút thôi mà…”
Ông lắc đầu, đôi mắt đỏ hoe. Tôi mở ra định trả lại thì tim như rớt xuống: trên tờ tiền in rõ mồn một chữ “NGÂN HÀNG ĐỊA PHỦ”. Tiền âm phủ.
Máu dồn lên mặt, tôi vừa tức vừa tủi. Những bữa cơm tôi chắt chiu, những lần chạy mưa chạy nắng, cuối cùng đổi lại bằng hai tờ giấy dành để đốt?
“Ông… ông coi con là gì vậy?” Tôi bật ra, giọng run.
Hùng nằm trên giường nghe thấy, chống tay ngồi dậy, mặt tái đi vì giận: “Ông làm nhục vợ tôi hả?”
Ông Bảy không cãi. Ông nhìn tôi, miệng mấp máy như muốn nói điều gì, rồi bất ngờ khụy xuống. Y tá Thảo lao tới bấm chuông cấp cứu. Trong lúc mọi người cuống lên, tôi nhìn thấy dưới mép nệm giường ông lòi ra một phong bì nâu… bên ngoài ghi nguệch ngoạc: “GỬI CÔ LAN – GIƯỜNG 12.”
Tôi đứng chết trân, tay vẫn nắm hai tờ “âm phủ” như một bằng chứng nhục nhã. Cả phòng bệnh rối lên, tiếng chân chạy dồn dập, tiếng xe đẩy kêu cọt kẹt. Y tá Thảo quát nhanh:
“Chị Lan tránh ra cho bác sĩ làm việc!”
Tôi lùi lại theo phản xạ. Hùng nhìn tôi, mắt đỏ ngầu: “Em thấy chưa? Anh đã bảo đừng bận lòng chuyện người ta.”
Tôi không trả lời. Trong đầu tôi lúc đó chỉ có một câu: tại sao? Nếu ông Bảy không có tiền, ông chỉ cần nói “cảm ơn” là đủ. Còn nếu ông có tiền mà vẫn đưa “âm phủ”, thì ông đang giễu cợt tôi?
Bác sĩ cấp cứu xong, ông Bảy được chuyển xuống phòng theo dõi. Cái giường trống cạnh Hùng đột nhiên rộng và lạnh. Tôi nhìn quanh, thấy túi đồ cũ của ông vẫn ở đó, một chiếc điện thoại đen đời cũ, vài bộ quần áo đã sờn cổ. Và đặc biệt là cái phong bì nâu thò ra dưới nệm.
Tôi lén kéo phong bì ra. Tay tôi run đến mức không xé được miệng dán. Trong phong bì có một tờ giấy gấp đôi và một cuốn sổ nhỏ bọc nylon. Tôi mở tờ giấy trước. Chữ viết nguệch ngoạc nhưng rõ ràng:
“Cô Lan, nếu cô đọc được cái này chắc cô đang giận. Đừng vứt hai tờ tiền đó. Cô mở ra kỹ giùm ông. Ông không có người chăm, cô cho ông ăn, ông biết. Ông không muốn mang ơn rồi đi. Ông sợ người ta lấy mất nên ông làm vậy…”
Tôi đọc đến đó thì tim đập thình thịch. “Mở ra kỹ”… Tôi cúi xuống nhìn hai tờ “âm phủ” trên tay. Trước đó tôi chỉ kịp thấy dòng chữ “Ngân hàng địa phủ” và nổi nóng. Tôi thử vuốt phẳng, lật mặt sau. Ở đường gấp giữa tờ giấy, có một lớp mỏng khác cộm lên. Tôi cẩn thận tách ra… một xấp tiền thật được bọc bên trong bằng băng keo trong, gọn ghẽ như người ta giấu tiền đi đường. Không nhiều, nhưng đủ để tôi nghẹn cổ: vài tờ 500 nghìn, cộng lại khoảng năm triệu.
Tôi sững sờ, mặt nóng bừng vì xấu hổ. Hai tờ “âm phủ” chỉ là lớp bọc ngoài. Ông không hề “làm nhục” tôi. Ông giấu tiền thật trong đó.
Hùng thấy tôi đứng thừ người, hỏi gắt: “Cái gì vậy em?”
Tôi đưa tờ giấy cho anh đọc. Hùng đọc xong im bặt, rồi thở dài một hơi, giọng nhỏ hẳn: “Anh… nóng quá. Anh tưởng…”
Tôi không trách anh. Tôi tự trách mình nhiều hơn. Cảm giác tủi thân lúc nãy biến thành một cục đá nặng trong ngực.
Tôi mở tiếp cuốn sổ nhỏ bọc nylon. Đó là sổ tiết kiệm, nhưng tên chủ tài khoản không phải Lan hay Hùng, mà là Trần Văn Bảy. Kèm theo là một tờ giấy ghi số điện thoại và dòng chữ: “Con gái: Vy”. Chỉ vậy thôi.
Y tá Thảo quay lại lấy hồ sơ, thấy tôi cầm phong bì thì cau mày: “Chị lấy đồ của ông Bảy hả?”
Tôi vội giải thích, đưa thư cho cô xem. Thảo nhìn qua, mắt dịu lại: “Ổng hiền lắm chị. Nhưng ổng hay sợ bị mất đồ. Hồi mới nhập viện, ổng cứ hỏi tôi khóa tủ chưa. Ổng nói từng bị giật ví ngoài bến xe.”
Tôi nuốt khan: “Con gái ổng… không tới hả em?”
Thảo lắc đầu: “Em chỉ thấy ổng gọi một lần, bên kia tắt máy. Ổng ngồi thẫn cả buổi.”
Một lúc sau, bác sĩ báo ông Bảy bị tụt huyết áp, cần theo dõi vài ngày nữa. Tôi nhìn giường chồng, nhìn túi đồ đã xếp sẵn, rồi nhìn phong bì trên tay. Trong đầu tôi có hai tiếng “mắc nợ” cứ vang lên.
Tôi bấm số điện thoại trong giấy. Chuông reo dài. Một giọng phụ nữ trả lời, khàn như vừa khóc hoặc vừa thức đêm:
“Ai đó?”
Tôi nói chậm: “Chị… chị là Vy phải không? Em ở bệnh viện. Ba chị—ông Bảy—đang nằm viện.”
Đầu dây bên kia im lặng vài giây. Rồi giọng kia bật lên, gắt gỏng như để che sợ hãi: “Tôi… tôi không có ba. Nhầm số.”
Tôi vội: “Chị nghe em nói đã. Ổng… ổng vừa ngất. Ổng để lại thư và sổ tiết kiệm. Em không phải người nhà nhưng em—”
“Đừng gọi nữa.” Cô ta cúp máy.
Tôi đứng như bị tạt nước lạnh. Hùng nhìn tôi, giọng lo: “Em đừng dính vào chuyện nhà người ta nữa, Lan. Mình còn lo trả viện phí.”
Tôi hiểu. Nhưng trong thư, ông Bảy gọi đúng tên tôi, nhờ tôi “mở ra kỹ”. Tôi đã suýt ném đi vì tự ái. Nếu hôm nay tôi quay lưng, có lẽ cả đời tôi sẽ nhớ mãi ánh mắt ông lúc nắm cổ tay tôi.
Tôi bảo Hùng: “Anh về trước với ba mẹ. Em ở lại thêm chút. Em muốn trả ông ấy thứ này, và… ít nhất báo cho người nhà ổng biết ổng đang thế nào.”
Hùng do dự, rồi gật đầu. “Em cẩn thận. Có gì gọi anh.”
Đêm đó, tôi không về. Tôi ngồi ngoài phòng theo dõi, trong túi là phong bì nâu, trong lòng là một mớ cảm xúc chằng chịt: giận, thương, xấu hổ, và cả tò mò về người con gái tên Vy đã thẳng tay cắt đứt cuộc gọi. Tôi tự hỏi: một người cha hiền như vậy đã làm gì để con mình nói ‘tôi không có ba’?
Sáng hôm sau, tôi xin nghỉ làm, mua cháo nóng và ít trái cây rồi xuống phòng theo dõi. Ông Bảy tỉnh, gương mặt nhợt nhạt nhưng vẫn cố nở nụ cười khi thấy tôi.
“Cô Lan…” Ông thở hắt, giọng như sợ. “Cô… giận ông hả?”
Tôi cúi đầu, cầm tay ông: “Con xin lỗi, ông. Con nóng quá. Con tưởng ông…”
Ông nhắm mắt, lắc đầu chậm rãi: “Ông biết. Nhìn cái chữ đó ai chẳng tức. Ông ngu… nhưng ông sợ.”
Tôi lấy phong bì ra, đặt lên giường: “Đây là của ông. Tiền thật con thấy rồi. Con không dám cầm.”
Ông đưa tay đẩy lại, yếu nhưng dứt khoát: “Ông không dư dả. Nhưng cô cho ông ăn, cô ngồi nói chuyện với ông. Ở đời, người ta giúp mình khi mình không có ai… quý hơn tiền. Ông muốn cô cầm để nhớ rằng cô từng làm điều tốt.”
Tôi lắc đầu: “Con giúp vì con thương cảnh ông thôi. Con không làm để lấy tiền.”
Ông thở dài: “Vậy cô cầm giúp ông… để làm việc khác.”
Ông quay mặt đi, mắt đỏ: “Con Vy… nó tránh ông. Ông biết nó có chuyện. Ông già rồi, nói gì nó cũng không nghe. Ông sợ mình nằm xuống là không kịp.”
Tôi kể chuyện gọi điện bị cúp máy. Ông im lặng rất lâu, rồi nói nhỏ: “Nó không hư. Nó chỉ… lỡ lầm.”
Ông kể, ngày xưa ông làm lái xe cho một xí nghiệp, vợ mất sớm, một mình nuôi con. Vy học xong, lấy chồng sớm, rồi làm ăn thua lỗ, dính nợ. Nó giấu ông, sợ ông lo, sợ ông bán nhà. Có lần chủ nợ tìm tới, ông mới biết, hai cha con cãi nhau dữ. Vy bỏ đi làm xa, từ đó thưa dần. Ông không giận, chỉ đau.
Tôi nghe mà nghẹn. Nhiều khi người ta không về thăm không phải vì hết thương, mà vì xấu hổ.
Tôi hỏi: “Sao ông lại bọc tiền bằng… tờ đó?”
Ông cười buồn: “Hồi bị giật ví, ông mất sạch tiền lương. Từ đó ông nghĩ, nếu bọc bằng cái người ta nhìn vô là chán, thì may ra khỏi bị lấy. Ông hay mang mấy tờ đó… định Tết đốt cho bà nhà nữa. Lúc đưa cô, ông cuống, ông chỉ kịp nhét vậy. Ông muốn cảm ơn ngay, sợ cô về rồi ông không gặp lại.”
Tôi thở ra một hơi dài. Mọi thứ bỗng hợp lý một cách đau lòng: một ông già sợ bị cướp, sợ cô đơn, sợ mang ơn.
Tôi nói: “Con sẽ thử liên lạc lại với chị Vy. Nhưng con không hứa chắc.”
Ông gật đầu, ánh mắt sáng lên chút ít.
Tôi không gọi điện nữa. Tôi nhắn tin: “Em là Lan ở Bệnh viện X. Ba chị đang theo dõi vì tụt huyết áp. Em không xin gì. Chị chỉ cần biết để… nếu chị muốn, chị tới. Em sẽ ở đây đến trưa.”
Tôi gửi xong, tim đập thình thịch như vừa làm chuyện lớn. Đúng 11 giờ, cửa phòng mở. Một người phụ nữ ngoài bốn mươi bước vào, gầy, tóc cột vội, mắt thâm quầng. Cô đứng sững khi thấy ông Bảy. Ông cũng sững, rồi môi run run.
“Vy…”
Cô quay mặt đi, giọng cứng: “Con… con chỉ ghé chút.”
Ông Bảy cố ngồi dậy, nhưng tôi vội đỡ: “Ông nằm đi.”
Vy nhìn tôi, ánh mắt vừa đề phòng vừa biết ơn: “Chị là…?”
“Em là người nằm giường bên chồng chị trước đây. Em có mua cơm cho ông mấy bữa.” Tôi nói thật ngắn.
Vy cúi đầu. Một giọt nước rơi xuống. Cô lẩm bẩm: “Con nghĩ ba ghét con. Con nghĩ ba sẽ không muốn gặp.”
Ông Bảy lắc đầu, giọng khàn: “Ba chỉ sợ con khổ.”
Không cần thêm lời nào, bức tường giữa hai cha con như nứt ra. Vy ngồi xuống, nắm tay ông. Ông Bảy khóc như trẻ con, còn Vy cắn môi đến bật máu.
Tôi lặng lẽ đặt phong bì nâu lên tủ đầu giường. Vy thấy, nhìn tôi như muốn hỏi. Tôi chỉ nói: “Ông để lại cho chị. Nhưng cái này… em nghĩ chị và ông nên tự nói với nhau.”
Tôi xin phép ra ngoài để họ có không gian. Ngoài hành lang, tôi nhắn cho Hùng: “Ổn rồi anh. Em về sau.”
Khi tôi quay lại, Vy đã bình tĩnh hơn. Cô nói nhỏ: “Em xin lỗi vì hôm qua cúp máy. Em sợ… sợ phải đối diện.”
Tôi gật: “Đối diện khó, nhưng né mãi còn khó hơn.”
Vy mở phong bì, thấy thư và sổ tiết kiệm, mắt trợn lên: “Ba… ba giữ cái này làm gì? Con nợ nần—”
Ông Bảy cắt lời, giọng nhẹ: “Ba già rồi. Ba không cứu con được bằng sức. Ba cứu bằng cái ba dành dụm. Nhưng ba không muốn con nghĩ ba mua con quay về. Ba chỉ muốn con về vì con còn thương.”
Vy òa khóc: “Con thương chứ… chỉ là con xấu hổ.”
Tôi nhìn cảnh đó, tự nhiên nhớ khoảnh khắc mình nổi nóng vì hai tờ “âm phủ”. Hóa ra, tự ái cũng giống như xấu hổ: khiến người ta nhìn sai ý tốt của nhau.
Trước khi về, ông Bảy nắm tay tôi, nhét lại vào tay tôi đúng hai tờ “âm phủ” đã rỗng tiền, cười: “Cô giữ làm kỷ niệm. Để lần sau nhìn kỹ trước khi giận.”
Tôi cũng cười, mắt cay: “Dạ. Con sẽ nhớ.”
Hôm ấy, tôi đưa Hùng về nhà, kể lại mọi chuyện. Anh im lặng một lúc rồi nói: “May mà em không bỏ mặc. Đời này… người tốt cần người tốt khác.”
Tôi không nhận năm triệu. Vy xin tôi nhận một phần coi như “tiền cơm”, tôi chỉ nhận đúng số tôi đã mua cho ông trong tuần đó, còn lại trả lại hết. Không phải vì tôi cao thượng, mà vì tôi hiểu: ông Bảy cần cảm giác mình không còn nợ ai, còn tôi cần cảm giác mình đã sửa được một hiểu lầm.
Vài tháng sau, Hùng khỏe lại, tôi quay lại bệnh viện tái khám thì gặp Vy chở ông Bảy đi khám định kỳ. Ông cụ khỏe hơn, da hồng lên, vẫn cười hiền. Vy chào tôi, ánh mắt đã khác: bớt đề phòng, nhiều ấm áp.
Tôi cầm hai tờ “âm phủ” kẹp trong ví, tự nhắc mình một điều rất đời thường: đừng vội kết tội khi chưa nhìn kỹ, và đừng để lòng tốt bị tự ái làm hỏng.



